|

Đây là những câu hỏi trong kỳ thi Tango
thuộc trình độ Đồng của ISTD. Nó bao gồm những kiến
thức lý thuyết cho những người muốn có chứng chỉ của
ISTD (và đối với IDTA hoặc tổ chức đào tạo của IDSF
chắc cũng không có nhiều khác biệt). Phần lý thuyết
này được thể hiện dưới dạng câu hỏi và trả lời.
RF Right Foot (chân phải)
LF Left Foot (chân trái)
LOD Line of Dance (Đường nhảy)
PP Promenade Position (Thế Dạo)
CBMP Contrary Body movement Position (Thế
CBMP)
CBM Contrary Body movement (Chuyển động
CBM)
B Ball of Foot (nửa bàn trên)
H Heel (Gót chân)
T Toe (mũi chân)
IE Inside Egde (cạnh trong)
NFR No Foot Rise (Không nhấc chân)
DW Diagonally to wall (Hướng chéo tường)
DC Diagonally to center (hướng chéo tâm)
Một số khái niệm và định nghĩa chung cho
các vũ điệu Standard.
CBMP (Contrary Body Movement Position)
CBMP là thế của bàn chân được đặt trên
hoặc hơi cắt mặt chân trụ, dù là tiến hay lùi trong
khi vẫn giữ nguyên tư thế thân người.
PP (Promenade Position)
Thế Dạo PP là thế của đôi nhảy khi cạnh
phải của nam sát với cạnh trái của nữ, hai cạnh còn
lại được mở ra thành hình chữ V.
OP (Outside Partner)
Là một bước đi ra ngoài bạn nhảy, ở phía
cạnh phải.
SIDE LEADING
DẪN CẠNH : Bước dẫn cạnh là một bước khi
chân nào chuyển động tiến hoặc lùi vai đó cùng đi theo.
ALIGNMENT (Hướng di chuyển)
Đây là hướng di chuyển của bàn chân trong
sự tương quan với sàn nhảy.
Khi nói Mặt hướng hoặc Lưng hướng là nói
hướng bàn chân khi mặt và chân cùng hướng, từ "Điểm
chân" được sử dụng khi thân người và bàn chân có
hướng khác nhau.
NO FOOT RISE
KHÔNG NHẤC GÓT : Khi thực hiện một bước
lùi trong ở hầu hết các bước quay, gót của chân không
trụ luôn giữ tiếp xúc với mặt sàn cho tới khi trọng
lượng thân người được chuyển hế sang bước kế tiếp. Sự
nâng thân chỉ có trong thân và cẳng chân (chứ không
nhấc gót).
FOOTWORK
TIẾP SÀN : Đây là khái niệm về phần nào
của bàn chân tiếp xúc với mặt sàn, nhưng nên lưu ý là
trong các vũ điệu Waltz, Foxtrot, Quick step chỉ sử
dụng các từ "Mũi" và "Gót". Từ "Mũi"
ở đây phải được hiểu là bao gồm cả " bàn trên"
của bàn chân. Một bước tiến nào đó được ghi "Gót"
cũng cần phải được hiểu là bao gồm cả bàn chân sau đó
tiếp xúc với sàn. Không cần thiết phải nói rằng "Gót"
rồi tới "cả bàn chân". Có một quy luật rất
quan trọng mà chúng ta phải ghi nhớ là khi đóng ngang
chân chân nọ vào chân kia, chúng ta phải duy trì sự
tiếp xúc của MŨI CHÂN với sàn.
CBM (CONTRARY BODY MOVEMENT)
CBM là một chuyển động của cơ thể. Khi
cạnh đối diện của thân người cùng chuyển động với chân
tiến hoặc lùi, được sử dụng cho việc chuẩn bị quay nói
chung.
NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT KHI TẬP TANGO
THẾ ĐỨNG VÀ CÁCH CẦM TAY TRONG TANGO
Nam đứng thẳng mặt hướng tường hai chân
song song, sau đó xoay cả hai bàn chân theo chiều trái
một góc 1/8, cùng lúc chân phải trượt ra sau 5 - 8 cm
(2 - 3 inchs)
Cách cầm tay vào đôi trong Tango tương
tự như các vũ điệu khác, khác một chút là khung dẫn
trong Tango cần chắc chắn hơn.
1. Nam chủ động cho nữ đứng lệch về bên
phải nhiều hơn so với các vũ điệu khác, nhưng không
lệch quá nhiều (Thường là hai đường chỉ quần của nam
và nữ đối diện nhau)
2. Tay phải của nam ôm lưng nữ sâu hơn,
các ngón tay nam có thể ôm vượt qua sống lưng nữ với
cẳng tay hơi chúc xuống dưới.
Tay trái của nữ đặt lên trên cánh tay
phải nam, bàn tay ôm lấy phần dưới bả vai nam (tạo sự
liên kết chắc chắn). Tay phải nữ đặt vào lòng tay trái
nam( Hai bàn tay cùng nắm lại với một áp lực vừa phải).
BƯỚC DẠO TANGO
Bước Dạo Tango khác biệt so với bước Dạo
của các vũ điệu khác ở những điểm sau đây :
1. Không có yếu tổ nâng hạ thân người
2. Đầu gôi hơi gập lại nhưng vẫn giữ một
áp lực cơ bắp nhất định.
3. Do tư thế khác biệt của Tango, bước
dạo tiến CT luôn được đặt trong thế CBMP và bước dạo
tiến CP luôn được sử dụng dẫn cạnh. Tương tự, bước lùi
CP luôn là CBMP và bước lùi CT luôn là dẫn cạnh. Đây
cũng là nguyên nhân tại sao khi chúng ta thực hiện liên
tiếp các bước dạo, chúng ta luôn có xu thế lượn theo
chiều trái.
4. Cá bước chân thường được nhấc lên rồi
đặt xuống - khác với các vũ điệu khác khi các bước chân
bao giờ cũng lướt trên mặt sàn.
5. Mỗi bước chân chuyển động cần rõ và
sắc nét, có thể hơi đột ngột (staccato action) và khi
thực hiện các bước tiến, chân ở phía sau được giữ trễ
tới mức âm nhạc cho phép. Các bước lùi cũng được thực
hiện trong một suy luận tương tự.
6. Khi tiến CT trong thế CBMP, bắt đầu
cho sự lượn trái, điều rất quan trọng là gót CT luôn
đặt trên, chứ không cắt mặt, đường trục của CP. Khi
CP lùi trong thế CBMP, tương tự như trên, mũi CP luôn
đặt trên, chứ không cắt mặt, đường trục của CT.
7. Bất cứ bước lùi nào của nam được thực
hiện với dẫn cạnh, gót CP đèu được nhấc khỏi mặt sàn
trước khi lùi vào bước kế tiếp. Trong các bước lùi khác,
mũi chân thường được nhấc khỏi mặt sàn. Khi nữ thực
hiện các bước lùi với một chhan nào đó thì chân ở phía
trước luôn nhấc mũi khỏi mặt sàn.
Ghi chú :Phần này được dịch từ "The
Ballroom Technique". ISTD.
London 1994.
Nguyên bản xem ở đây (Bản tiếng Anh và
tiếng Việt)
|